Gọi ngay:

0988893863
Loading...

    TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN LÀ CỔ VẬT

    Thời gian vừa qua, cơ quan công an tại nhiều địa phương trên cả nước đã liên tiếp phát hiện, khởi tố, điều tra đối với các đối tượng có hành vi trộm cắp tài sản là đồ thờ, di vật, cổ vật tại các đình, chùa, đền, miếu. Đặc điểm chung của các vụ án này là các đối tượng đã lợi dụng việc quản lý có phần lỏng lẻo tại các đình, chùa để đột nhập ( thường vào ban đêm) để trộm cắp tượng, đồ thờ …là di vật, cổ vật, đồ thờ để bán cho các đối tượng khác thu lời bất chính.

    Theo thông tin được báo chí phản ánh, thời gian qua trên phạm vi cả nước đã xảy ra các vụ trộm cắp tài sản là di vật, cổ vật tại các đình, chùa. Tài sản mà các đối tượng trộm cắp hướng tới là đồ thờ cúng, tượng, di vật, cổ vật có giá trị về văn hóa, tâm linh và cả giá trị tài sản lớn, do đó, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh – trật tự chung của xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp tài sản là di vật, cổ vật của tổ chức, cá nhân.  

    Theo quy định tại khoản 5, Điều 4 Luật Di sản văn hóa thì “di vật” được hiểu “là hivđưlưtruylicó giá trị lcsvăhóakhohc”, theo quy định tạikhoản 6, Điều 4 Luật Di sản văn hóa thì “cổ vật” được hiểu là “hiện vật có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học có từ 100 năm tuổi trở lên”. Theo định nghĩa này, cổ vật phải đáp ứng được các tiêu chí : là hiện vật; có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học và phải có tuổi từ 100 năm tuổi trở lên ( khác với di vật vì di vật không đòi hỏi phải có tuổi). Nếu một hiện vật nào đó mà không đáp ứng được các tiêu chí nêu trên sẽ không được coi là cổ vật.

    Hiện nay, theo Luật Di sản văn hóa, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đăng ký, di vật, cổ vật thuộc sở hữu của mình với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch ( khoản 1 – Điều 42 – Luật Di sản văn hóa). Theo quy định tại Điều 42 thì di vật, cổ vật phải được giám định tại cơ sở giám định cổ vật trước khi đăng ký. Việc đăng ký di vật, cổ vật hiện nay được thực hiện theo quy định tại Điều 19 – Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 và thông tư số 07/2004/TT- BVHTT, được sửa đổi theo thông tư số 07/2011/TT-BVHTTDL. Theo nội dung hướng dẫn tại các thông tư này, việc đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được thực hiện nhanh chóng, theo đó, chủ sở hữu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia gửi đơn đề nghị đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo mẫu tới Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nơi sở tại bằng cách nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện.  Trong thời hạn mười lăm (15) ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn của chủ sở hữu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm xem xét và trả lời về thời hạn tổ chức đăng ký.Trong thời hạn mười lăm (15) ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành thủ tục đăng ký, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

    Luật Di sản văn hóa hiện nay quy định về việc khuyến khích đăng ký cổ vật, di vật nhưng chưa bắt buộc chủ sở hữu di vật, cổ vật phải đăng ký. Tuy nhiên, khi thực hiện việc đăng ký di vật, cổ vật, ngoài các quyền được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 42 Luật Di sản văn hóa như: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch cấp giấy chứng nhận đăng ký di vật, cổ vật; được giữ bí mật thông tin về di vật, cổ vật đã đăng ký, nếu có yêu cầu; Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch hướng dẫn nghiệp vụ, tạo điều kiện bảo vệ và phát huy giá trị di vật, cổ vật thì việc đăng ký di vật, cổ vật là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng thu hồi và trả lại di vật, cổ vật cho chủ sở hữu trong các vụ án trộm cắp di vật, cổ vật.

    Mặt khác, việc đăng ký di vật, cổ vật cũng giúp cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm trộm cắp tài sản trong đó có trộm cắp di vật, cổ vật của các cơ quan chức năng được dễ dàng hơn. Trong các loại tội phạm xâm phạm sở hữu như: tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì việc xác định giá trị tài sản hay định giá tài sản yếu tố quan trọng để có thể khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Trong trường hợp tài sản trộm cắp là di vật, cổ vật đã được đăng ký thì việc định giá tài sản trộm cắp làm cơ sở khởi tố, truy tố, xét xử sẽ rất thuận lợi bởi vì hồ sơ về di vật, cổ vật đã được lưu tại cơ quan đăng ký cổ vật. Căn cứ hồ sơ của cổ vật, cơ quan có chức năng định giá tài sản trong tố tụng hình sự sẽ dễ dàng định giá tài sản bị trộm cắp là di vật, cổ vật theo quy định tại điểm e, Điều 17, Nghị định số 30/2018/NĐ-CP về trình tự, thủ tục định giá trong tố tụng hình sự làm cơ sở cho việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Trong trường hợp di vật, cổ vật bị trộm cắp chưa thu hồi được trong quá trình khởi tố, điều tra thì hồ sơ đăng ký di vật, cổ vật là căn cứ ban đầu quan trong để định giá tài sản phục vụ cho hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng.

    Hành vimua bán, trao đổi, vận chuyển trái phép cổ vật là các hành vi vi phạm pháp luật. Luật Di sản văn hóa tại Điều 13 đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có hành vimua bán, trao đổi, vận chuyển trái phép cổ vật. Người thực hiện một trong các hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính : Tịch thu tang vật vi phạm theo quy định tại điểm b, khoản 7 Điều 23 và  buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm theo quy định tại điểm c, khoản 9, Điều 23 nghị định số 158/2013/NĐ-CP. Trong trường hợp người mua cổ vật mà biết rõ cổ vật đó là tài sản do trộm cắp mà có thì người mua có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại Điều 323 Bộ Luật hình sự.

    Đối với hành vi trộm cắp cổ vật sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự: “đ. Tài sản là di vật, cổ vật”. Tùy thuộc vào kết quả định giá tài sản, vào mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết khác, người phạm tội trộm cắp cổ vật có thể bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm tù ( khoản 1 Điều 173 BLHS), phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù ( khoản 2 Điều 173 BLS); phạt tù từ 07 năm đến 15 năm tù ( khoản 3 Điều 173BLHS); phạt tù từ 12 năm đến 20 năm tù ( khoản 4 Điều 173 BLHS).

    Tài sản là di vật, cổ vật, đồ thờ tại các đình, chùa, miếu…là các tài sản mang nhiều giá trị văn hóa, lịch sử, tâm linh, nhiều tài sản trong số đó được coi là bảo vật vì giá trị độc nhất vô nhị và các giá trị văn hóa kết tinh trong tài sản đó. Nhưng cũng vì giá trị mang nhiều yếu tố tâm linh nên hiện nay việc quản lý các tài sản này còn chưa được thực hiện chặt chẽ. Các đình chùa chưa bố trí hoặc có biện pháp bảo vệ thích hợp đối với các tài sản này. Hơn nữa, việc trưng bày công khai các cổ vật, di vật mà không có biện pháp thay thế tại các đình, chùa hiện nay cũng là nguyên nhân khiến cho những đối tượng trộm cắp thực hiện các vụ đột nhập để chiếm đoạt tài sản.

    Để hạn chế tới mức thấp nhất các vụ trộm cắp di vật, cổ vật tại các đình, chùa cần tăng cường hơn công tác bảo vệ bao gồm con người và các thiết bị an ninh khác như camera an ninh…Đối với các cổ vật cần phải trưng bày công khai mà có nguy cơ bị trộm cắp có thể lựa chọn giải pháp thay thế bằng các bản sao cổ vật, di vật theo quy định tại Điều 46 Luật Di sản văn hóa. Ngoài ra, các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác tuần tra, kiểm soát phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vận chuyển, mua bán, trao đổi di vật, cổ vật trái phép./.

    • Chia sẻ qua viber bài: TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN LÀ CỔ VẬT

    Tin tức Liên quan

    Menu  tin tức

    Bài viết mới

    Không có thông tin cho loại dữ liệu này