Hỏi : Chào luật sư, từ ngày 01/5/2020, có thông tin người vi phạm hành chính có thể đặt tiền bảo lãnh phương tiện vi phạm?Luật sư có bình luận như thế nào về thông tin trên?
Đáp: Về vấn đề bạn hỏi, Văn phòng luật sư JVN trả lời như sau:
Ngày 03/10/2013, Chính phủ đã ban hành nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Trải qua 06 năm thực hiện, nghị định số 115/2013/NĐ-CP đã bộc lộ một số bất cập, gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.Theo Báo cáo tổng kết 6 năm thi hành Nghị định 115/NĐCP, từ năm 2013 đến nay đã có 1.739.103 tang vật, phương tiện vi phạm quá thời hạn tạm giữ, hiện còn tồn đọng 303.382 tang vật, phương tiện. Chính điều này đã tạo ra áp lực lên cơ sở hạ tầng, nhân lực, trang thiết bị cho việc tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính của cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Ngày 05/3/2020, Chính Phủ đã ban hành nghị định số 31/2020/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 115/2013/NĐ-CP.Nghị định số 31/2020/NĐ-CP bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01/5/2020. Trong đó, đáng chú ý nhất là nghị định này đã sửa đổi, bổ sung các quy định tại Điều 14, Điều 15 nghị định 115/2013/NĐ-CP về giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản và đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tuc hành chính.
1.Về điều kiện giữ, bảo quản phương tiên vi phạm của tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính
Theo quy định tại Điều 14 khoản 1, Nghị định số 31/2020/NĐ-CP, phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có một trong các điều kiện dưới đây thì người có thẩm quyền tạm giữ có thể giao cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản phương tiện dưới sự quản lý của cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ, cụ thể: Cá nhân vi phạm có nơi đăng ký thường trú hoặc có đăng ký tạm trú còn thời hạn hoặc có giấy xác nhận về nơi công tác của cơ quan, tổ chức nơi cá nhân vi phạm đang công tác; tổ chức vi phạm phải có địa chỉ hoạt động cụ thể, rõ ràng. Tổ chức, cá nhân vi phạm phải có nơi giữ, bảo quản phương tiện; Tổ chức, cá nhân vi phạm có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được xem xét để giao giữ, bảo quản phương tiện.
2. Về trình tự giải quyết việc giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản
Về trình tự giải quyết việc giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản, Điều 14 khoản 2, nghị định số 31/2020/NĐ-CP quy định : Tổ chức, cá nhân vi phạm phải làm đơn gửi cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ đề nghị được giữ, bảo quản phương tiện; Trong thời hạn không quá 02 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ phải xem xét, quyết định việc giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần phải có thêm thời gian để xác minh thì trong thời hạn không quá 03 ngày.Khi giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản, người có thẩm quyền tạm giữ phải lập biên bản.Cùng với việc lập biên bản khi giao phương tiện, người có thẩm quyền tạm giữ phải tạm giữ giấy chứng nhận đăng ký phương tiện để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt, trừ trường họp tổ chức, cá nhân vi phạm đã đặt tiền bảo lãnh. Tổ chức, cá nhân vi phạm trong thời gian được giao giữ, bảo quản phương tiện vi phạm thì không được phép sử dụng phương tiện vi phạm đó tham gia giao thông; không được tự ý thay đổi nơi giữ, bảo quản phương tiện vi phạm nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền tạm giữ.
Các trường hợp không giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản bao gồm: phương tiện giao thông của vụ vi phạm là vật chứng của vụ án hình sự; Phương tiện giao thông được sử dụng để đua xe trái phép, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng hoặc gây tai nạn giao thông;Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện bị làm giả, sửa chữa;Biển kiểm soát giả, phương tiện bị thay đổi trái phép số khung, số máy hoặc bị xóa số khung, số máy.
So sánh với quy định của Nghị định số 115/2013/NĐ-CP thì Quy định về điều kiện để tổ chức, cá nhân vi phạm được giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định 31/2020/NĐ-CP không có thay đổi so với Nghị định số 115/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, nghị định số 31/2020/NĐ-CP đã quy định chặt chẽ, rõ ràng hơn về trình tự thủ tục, về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm, trách nhiệm của người có thẩm quyền tạm giữ phương tiện. Cụ thể : Theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 14 Nghị định số 31/2020/NĐ-CP thì để được giao phương tiện, tổ chức, cá nhân vi phạm phải làm đơn gửi cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ đề nghị được giữ, bảo quản phương tiện; trong đơn ghi rõ họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm, hành vi vi phạm hành chính, tên, số lượng, đặc điểm, chủng loại, số hiệu, nhãn hiệu, ký hiệu, xuất xứ, năm sản xuất, số máy, số khung, dung tích (nếu có), tình trạng của phương tiện, nơi giữ, bảo quản phương tiện theo đề nghị của tổ chức, cá nhân sau khi được cơ quan có thẩm quyền giao giữ, bảo quản phương tiện. Nghị định số 115/2013/NĐ-CP không có quy định này.Nghị định số 31/2020/NĐ-CP, quy định về thời hạn người có thẩm quyền tạm giữ phương tiện phải quyết định giao hoặc không giao phương tiện cho cá nhân, tổ chức vi phạm là không quá 02 ngày kể từ ngày nhận đơn đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm. Nghị định 31/2020/NĐ-CP cũng quy định thời hạn người có thẩm quyền tạm giữ phương tiện phải thông báo cho ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi đang có phương tiện do tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản để phối hợp giám sát, quản lý trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày giao phương tiện tạm giữ. Nghị định số 115/2013/NĐ-CP không quy định về thời hạn này. Nghị định 31/2020/NĐ-CP quy định thêm về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được giao giữ, bảo quản phương tiện trong trường hợp không chấp hành đúng quy định về giữ, bảo quản phương tiện, trong đó có nghĩa vụ mới là nghĩa vụ : “phải chịu chi phí cho việc đưa phương tiện về nơi tạm giữ”, nghĩa vụ “chịu trách nhiệm về những thiệt hại, hậu quả do hành vi mà mình gây ra theo quy định của pháp luật nếu tổ chức, cá nhân để xảy ra mất, đánh tráo, bán, trao đổi, cầm cố, thế chấp, thay thế, hủy hoại, làm hư hỏng phương tiện trong thời gian được giao giữ, bảo quản phương tiện”
Nghị định số 31/2020/NĐ-CP cũng có sự thay đổi so với Nghị định số 115/2013/NĐ-CP về các trường hợp không giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản. Trong đó, Nghị định số 31/2020/NĐ-CP bãi bỏ trường hợp không giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân đối với “Phương tiện giao thông đang được đăng ký giao dịch bảo đảm”, được quy định tại Điều 15, Nghị định số 115/2013/NĐ-CP.
3. Về quy định “đặt tiền bảo lãnh” theo quy định tại nghị định 31/2020/NĐ-CP so sánh với Nghị định 115/2013/NĐ-CP:
Để đảm bảo giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản, nghị định số 115/2013/NĐ-CP và nghị định số 31/2020/NĐ-CP đều có quy định về “đặt tiền bảo lãnh”, về thẩm quyền, thủ tục xử lý tiền bảo lãnh. Tuy nhiên, nghị định số 31/2020/NĐ-CP quy định rõ ràng hơn. Cụ thể : Về mức tiền đặt bảo lãnh, Điều 15, nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định: “mức tiền đặt bảo lãnh ít nhất phải bằng mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt quy định cho hành vi vi phạm” nhưng không quy định mức tiền đặt bảo lãnh đối với trường hợp, cá nhân, tổ chức vi phạm có nhiều hành vi vi phạm hành chính. Nghị định số 31/2020/NĐ-CP quy định cụ thể hơn:” Mức tiền đặt bảo lãnh ít nhất bằng mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt quy định cho một hành vi vi phạm; trường hợp thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính trong cùng một vụ vi phạm thì mức tiền đặt bảo lãnh ít nhất phải bằng tổng mức tiền phạt tối đa của các hành vi vi phạm”. Việc quy định như vậy là phù hợp với thực tế vi phạm và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm. Nghị định số 31/2020/NĐ-CP cũng quy định chi tiết hơn về trách nhiệm của người có thẩm quyền tạm giữ, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về các mốc thời hạn phải thực hiện : thời hạn quyết định việc đặt tiền bảo lãnh là 02 ngày; thời hạn chuyển tiền cho bộ phận tài vụ, kế toán của người có thẩm quyền tạm giữ phương tiện: 02 ngày kể từ ngày nhận tiền đặt bảo lãnh; thời hạn gửi quyết định khấu trừ tiền đặt bảo lãnh: 02 ngày; thời hạn nộp tiền khấu trừ vào Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước ủy nhiệm thu tiền phạt được ghi trong quyết định xử phạt: 05 ngày kể từ ngày ra quyết định khấu trừ tiền đặt bảo lãnh.
Với những sửa đổi, bổ sung được quy định đầy đủ và rõ ràng về giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản và đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính, nghị định số 31/2020/NĐ-CP nếu được triển khai đồng bộ sẽ giảm bớt áp lực về hạ tầng, nhân lực cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính sẽ được nhanh chóng và tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Trên đây là bình luận của luật sư Đỗ Minh Hiển - Văn phòng luật sư JVN. Nếu có thắc mắc bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được giải đáp./.
Số 15, ngõ 402, phố Bạch Mai, phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại : 024.39747888 - 024.39747889
Hotline : 0988 893863
Email: vplsjvn@gmail.com
Web: vanphongluatsujvn.vn
Đăng ký Email từ Văn phòng luật sư JVN để nhận những thông tin mới nhất từ chúng tôi !