Hỏi : Chào luật sư, Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và thi hành một số điều của Luật Hộ tịch sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 16/7/2020.Có một số quy định của thông tư số 04/2020/TT-BTP nhận được các ý kiến trái chiều trong dư luận, đó là quy định tại khoản 3 – Điều 12 : “Trường hợp yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn thì cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ cấp một (01) bản cho người yêu cầu. Trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn” có cần thiết?
Đáp : Về vấn đề bạn nêu, Văn phòng luật sư JVN xin trả lời như sau :
Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và thi hành một số điều của Luật Hộ tịch sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 16/7/2020. Có một số quy định của thông tư số 04/2020/TT-BTP nhận được các ý kiến trái chiều trong dư luận, đó là quy định tại khoản 3 – Điều 12 “Trường hợp yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn thì cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ cấp một (01) bản cho người yêu cầu. Trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn”. Có nhiều ý kiến cho rằng quy định này là không cần thiết thậm chí gây ra xung đột pháp luật.
Theo chúng tôi, xác nhận tình trạng hôn nhân có thể hiểu là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận tình trạng hôn nhân của cá nhân : đã kết hôn, ly hôn, độc thân khi cá nhân muốn thực hiện vào các mục đích khác nhau. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có thể được sử dụng với mục đích kết hôn hoặc mục đích khác như : mua bán bất động sản khi muốn chứng minh đó là tài sản riêng của người bán hoặc người mua, nuôi con nuôi ( khoản 4, Điều 17, Luật Nuôi con nuôi 2010). Đối với trường hợp sử dụng cho mục đích kết hôn, người xin cấp phải đáp ứng các điều kiện đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 8 – Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc quy định “ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn khicá nhân có yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân sử dụng cho mục đích đăng ký kết hôn trước khi có thông tư 04/2020/TT-BTP đã có quy định cụ thể tại khoản 5 – Điều 25 Thông tư 15/2015/TT-BTP. Quy định này không phải là quy định mới và chỉ được áp dụng trong trường hợp xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng với mục đích kết hôn. Tuy nhiên, khi thông tư 04/2020/TT-BTP tiếp tục quy định lại nội dung này thì lại nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Trong đó, nhiều ý kiến cho rằng quy định này gây phiền toái cho người xin cấp vì có thể có việc thay đổi “đối tác” kết hôn.
Theo chúng tôi quy định tại khoản khoản 3 – Điều 12 thông tư số 04/2020/TT-BTP là hoàn toàn phù hợp với thực tế và đúng pháp luật. Trên thực tế, khi nam nữ vào độ tuổi kết hôn hoặc người còn độc thân mong muốn kết hôn khi xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đều đã có người mà họ hướng tới quan hệ hôn nhân.Trong nhiều trường hợp họ đã bàn bạc rất kỹ và chuẩn bị các điều kiện để kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn, nơi dự định sẽ sống chung sau kết hôn. Vì vậy, khi xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, họ hoàn toàn hiểu mục đích xin cấp giấy này, hiểu việc sẽ kết hôn với ai, kết hôn ở đâu? Hiếm trường hợp nào xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn mà chưa biết sẽ kết hôn với ai? Và trên thực tế, cũng ít có trường hợp nào xin cấp sẵn giấy này rồi để đó chờ cho đến khi gặp được “ đối tác”. Có không ít ý kiến cho rằng, việc quy định phải viết họ tên, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn có thể gây ra khó khăn cho người xin cấp trong trường hợp vì lý do nào đó họ thay đổi ý định kết hôn. Ví dụ : cô A xin xác nhận tình trạng hôn nhân để dự định kết hôn với anh B. Nhưng sau đó vì lý do nào đó cô A không muốn kết hôn với anh B nữa mà muốn kết hôn với anh C thì giải quyết như thế nào ? Thực ra, để giải quyết tình huống này, khoản 1 Điều 12 Thông tư 04/2020/TT-BTP đã hướng dẫn rất cụ thể : Cô A hoàn toàn có quyền xin cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn. Cô A chỉ cần nộp lại giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ( với anh B) và xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với anh C. Trong trường hợp cô A không nộp lại được giấy xác nhận trước đây thì cô A phải trình bày rõ lý do không nộp được. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh. Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân. Trong trường hợp có cơ sở xác định cam đoan của cô A là không đúng sự thật cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch ( khoản 2- Điều 5 Thông tư 04/2020/TT-BTP) . Như vậy, có thể thấy rằng, việc quy định ghi họ tên, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn không gây khó khăn cho người xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn như nhiều ý kiến trái chiều trên mạng xã hội. Việc quy định như vậy cũng không gây xung đột pháp luật như một số ý kiến trên mạng xã hội.
Trên đây là nội dung trả lời của Văn phòng luật sư JVN. Nếu bạn có bất cứ vấn đề cần trao đổi hãy liên hệ với chúng tôi để được giải đáp.
Số 15, ngõ 402, phố Bạch Mai, phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại : 024.39747888 - 024.39747889
Hotline : 0988 893863
Email: vplsjvn@gmail.com
Web: vanphongluatsujvn.vn
Đăng ký Email từ Văn phòng luật sư JVN để nhận những thông tin mới nhất từ chúng tôi !