Hỏi : Chào luật sư, hiện nay quy định của pháp luật về việc ghi âm cuộc gọi điện thoại như thế nào ? Nếu tôi ghi âm cuộc gọi mà không báo cho người đang đàm thoại thì có vi phạm pháp luật không ? Dữ liệu ghi âm được coi là chứng cứ khi tòa án xét xử vụ án, người ghi âm sau đó sử dụng làm chứng cứ trong vụ án thì có bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại nghị định 15/2020/NĐ-CP?
Đáp : Chào bạn, về câu hỏi của bạn, Văn phòng luật sư JVN trả lời như sau :
Hiện nay, việc sử dụng điện thoại thông minh đã trở lên khá phổ biến, theo thống kê chưa đầy đủ thì hiện nay có khoảng 43,7 triệu người Việt Nam đang sử dụng điện thoại thông minh (smartphone). Với các tính năng thông minh của điện thoại, người dùng có thể dễ dàng cài đặt các phần mềm ghi âm cuộc gọi ( ghi âm đàm thoại ). Việc ghi âm cuộc gọi tạo ra tiện ích cho người sử dụng nhưng cũng tiềm ẩn các nguy cơ mất an toàn thông tin, nhất là trong trường hợp nội dung ghi âm được sử dụng vào mục đích trái pháp luật.Ngoài ra, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin các phần mềm nghe lén điện thoại, thiết bị theo dõi, ghi âm có thể dễ dàng mua được với giá chỉ vài trăm nghìn đồng. Việc phát triển mạnh mẽ của các thiết bị này đã đe dọa trực tiếp tới quyền riêng tư của mỗi tổ chức, cá nhân. Vì vậy, Chính phủ đã ban hành nghị định số 15/2020/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử”. Bộ Luật hình sự năm 2015 cũng quy định về việc xử lý hình sự đối với hành vi “ Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật” tại Điều 159 – BLHS.
Theo quy định tại Điều 102, khoản 3, điểm q, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP thì hành vi "Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật "bị xử phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.Vậy, thế nào là hành vi nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật. Hành vi nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật là hành vi nghe, ghi âm cuộc đàm thoại không được pháp luật cho phép. Hình thức thể hiện của hành vi này có thể bao gồm các hành vi : nghe lén thông qua các thiết bị thông minh cuộc đàm thoại của người khác; lắp đặt thiết bị ghi âm tại nơi công cộng, khách sạn, hoặc cơ quan, tổ chức với mục đích ghi âm các cuộc đàm thoại của người khác. Ví dụ : Mặc dù không được sự cho phép của chủ tọa phiên tòa nhưng A vẫn thực hiện hành vi ghi âm buổi xét xử tại tòa án; B có hành vi lắp đặt thiết bị ghi âm tại phòng giám đốc công ty nơi B làm việc để ghi âm và nghe lén các cuộc đàm thoại của giám đốc với đối tác. C có hành vi lắp thiết bị ghi âm tại phòng nghỉ của khách sạn để ghi âm đàm thoại của khách đến nghỉ….Đối với các hành vi này, khi chủ thể thực hiện xong hành vi nghe, ghi âm trái pháp luật là đủ căn cứ xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại nghị định số 15/2020/NĐ-CP.
Thực tế hiện nay, có một hình thức ghi âm cuộc gọi điện thoại thường được sử dụng phổ biến trên các điện thoại thông minh. Khi sử dụng phần mềm ghi âm cuộc gọi, người gọi, người nghe có thể ghi âm cuộc đàm thoại trên chính điện thoại của mình. Vậy, hành vi này có được coi là hành vi “ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật” và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 15/2020/NĐ-CP?
Về vấn đề này, hiện nay có hai quan điểm khác nhau:
Quan điểm 1 : Nếu xác định hành vi "ghi âm" là trái pháp luật thì ngay thời điểm người thực hiện thực hiện hành vi này mà không được sự đồng ý của người tham gia đàm thoại sẽ được coi là hành vi vi phạm và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định số 15-CP;
Quan điểm 2 : Việc "ghi âm" sẽ bị coi là trái pháp luật khi sử dụng nội dung ghi âm vào những mục đích trái pháp luật như tiết lộ thông tin cuộc ghi âm để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác như : hạ thấp uy tín của người khác, xúc phạm người khác...mới được coi là trái pháp luật và là đối tượng xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 15/2020/NĐ-CP.
Chúng tôi cho rằng, quan điểm thứ hai sẽ hợp lý và phù hợp với các quy định của các ngành luật khác. Cụ thể như sau :
- Theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 87 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 thì nguồn chứng cứ là : "c, Dữ liệu điện tử". Điều 99- Bộ Luật tố tụng hình sự quy định :
"1. Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.
2. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.
3. Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác"
Như vậy, dữ liệu điện tử bao gồm dữ liệu " âm thanh" được thu thập từ "phương tiện điện tử" theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự được coi là nguồn của chứng cứ trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
- Theo quy định tại khoản 1, Điều 94 Bộ Luật tố tụng dân sự thì Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây : "Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử". Khoản 2, Điều 95 quy định về Xác định chứng cứ trong đó: " Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó ".
Như vậy, dữ liệu ghi âm cũng được Bộ Luật tố tụng dân sự quy định là nguồn của chứng cứ trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.
Hai Bộ luật lớn về tố tụng : Bộ Luật tố tụng hình sự, Bộ Luật tố tụng dân sự đều quy định về nguồn của chứng cứ trong đó có quy định dữ liệu ghi âm là một nguồn của chứng cứ. Điều này cho thấy, các nhà làm luật đã xác định tầm quan trọng của nguồn chứng cứ này trong điều kiện hiện nay.
Đặt giả thiết, việc ghi âm cuộc gọi được sử dụng đúng mục đích phù hợp với quy định của pháp luật thì không thể là đối tượng xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 102, Nghị định 15/2020/NĐ-CP.
Trở lại với quy định tại Điều 102, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi: "Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật", chúng tôi thấy rằng cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn để vừa đàm bảo sự an toàn thông tin trong bối cảnh hiện nay, đồng thời , đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật ./.
Số 15, ngõ 402, phố Bạch Mai, phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại : 024.39747888 - 024.39747889
Hotline : 0988 893863
Email: vplsjvn@gmail.com
Web: vanphongluatsujvn.vn
Đăng ký Email từ Văn phòng luật sư JVN để nhận những thông tin mới nhất từ chúng tôi !